Thứ ba, 19/11/2013 | 11:27 GMT+7

Trong lòng dân Người đã hóa tượng đài

Tác phẩm tham dự Cuộc thi viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp MS451: "Trong lòng dân, Người đã hóa tượng đài" của tác giả Phó Đình Tuệ (An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội).


Trong lòng dân Người đã hóa tượng đài

 

Không trải qua bất cứ một trường học quân sự chính quy nào, mà là xuất phát từ thực tế và tinh thần tự học tuyệt vời đã đưa nhân cách và tư tưởng của Tướng Giáp vượt tầm thời đại.

Sự đồng điệu giữa hai tư tưởng

Được sinh ra và lớn lên sau khi đất nước đã im tiếng bom đạn hơn 10 năm, những người trẻ chúng tôi chỉ biết về Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp thông qua các phương tiện truyền thông, sách báo hay các câu chuyện kể từ các bậc cha anh đi trước. Thế hệ đã nếm trải sự tàn khốc của chiến tranh và vô cùng thấu hiểu những giá trị của hai chữ hòa bình – thứ mà họ đã đánh đổi cả xương máu và tuổi thanh xuân để giành lấy cho đất nước.

Trong “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi từ thế kỷ XV đã đúc kết:

“…Nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu…

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song, hào kiệt thời nào cũng có…”

Quả đúng là như vậy.

Việt Nam ta trải mấy ngàn năm lịch sử, chịu bao biến thiên của thiên tai, địch họa nhưng cuối cùng vẫn xuất hiện những nhân vật kiệt xuất để cứu dân cứu nước. Với vai trò là những người chèo lái con thuyền đưa đất nước vượt qua bao bể dâu, họ đã tạc vào lòng dân những tượng đài bất diệt.  Đó là những anh hùng dân tộc như: Ngô Quyền, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… Ở mỗi một thời đại, trí tuệ và tinh thần của họ luôn hòa cùng vào tinh thần của toàn dân, của cả đất nước để viết lên những trang sử hào hùng.

 Trong lòng dân Người đã hóa tượng đài - ảnh 1

Hình ảnh Đại tướng hiện lên thật giản dị (Ảnh: Internet).

Và trong thế kỷ XX, khi mà lịch sử thế giới đã phải trải qua những biến cố vô cùng lớn lao, thì ở Việt Nam, Hồ Chủ Tịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp là hai nhân vật được đánh giá là những người làm thay đổi cục diện thế giới. Điểm chung của hai người có lẽ bởi tinh thần tự học tuyệt vời và ý chí sắt đá cộng với lòng yêu nước. Phải chăng, chính từ những yếu tố này mà đã làm nên nhân cách và tư tưởng vượt tầm thời đại của hai ông.

Là người học trò gần gũi và xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông là người được Bác Hồ tin tưởng giao nhiệm vụ phụ trách gây dựng lực lượng vũ trang. Một quyết định mang tính lịch sử của Hồ Chủ Tịch mà sau này mới thấy được hết tầm nhìn xa trông rộng của ông khi đã chọn mặt gửi vàng. Tướng Giáp đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân giao phó.

Có một chi tiết mà theo tác giả Bá Ngọc in trong cuốn “Hồ Chí Minh chân dung đời thường” có đề cập tới. Năm 1948, nhân ngày phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bác Hồ đã ra câu đối với các đồng chí trong chính phủ: “Giáp phải giải Pháp”. Mới nghe qua, chúng ta đã hiểu thâm ý của Bác trong việc giao trọng trách vô cùng hệ trọng này cho Tướng Giáp, là phải giải giáp và đánh bại quân đội Pháp. Và rồi lịch sử đã chứng minh sự tin tưởng ấy là hoàn toàn chính xác. Đó là khi nhân dân ta “chín năm làm một Điện Biên, nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng” với chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu vào tháng 5 năm 1954. Và sau này là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền nam, thống nhất Tổ quốc vào ngày 30/4/1975. Trong những chiến công đó, ghi dấu ấn rõ rệt và sáng chói của vị , Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Hình ảnh Người là nguồn động viên to lớn

Cả trong thời chiến lẫn khi đất nước đã thỏa ước vọng hòa bình, hình ảnh của vị Tướng tài luôn là nguồn cổ vũ tinh thần vô cùng mạnh mẽ với toàn quân và toàn dân trước khi thực hiện những nhiệm vụ mới quan trọng.

Cụ Chu Sĩ Tính, 90 tuổi, nguyên chủ tịch hội Cựu chiến binh huyện Hoài Đức, Hà Nội chia sẻ: “Trong chiến cuộc đông xuân 1953-1954, trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320 chúng tôi có nhiệm vụ kìm chân địch ở khu vực đồng bằng bắc bộ, không cho Pháp chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ. Đơn vị tôi có vinh dự được nhiều lần đón Đại tướng xuống thăm và động viên tinh thần chiến đấu. Ông là người rất vui tính, dễ gần và quan tâm tới từng chiến sĩ. Mỗi lần được Đại tướng tới gặp mặt là anh em chúng tôi rất phấn khởi và tin tưởng vào trận đánh sắp tới”. Cho tới giờ, trong tâm trí và đôi mắt đã mờ đục của vị Thượng tá về hưu này vẫn như đang in đậm hình ảnh và lời động viên của Đại tướng trước giờ xuất phát.

Trong những năm tháng chống Mỹ ác liệt, chỉ cần nghe thông tin về việc có Đại tướng Tổng tư lệnh tới thăm đơn vị và động viên tinh thần chiến sĩ cũng là niềm hạnh phúc vô bờ của không ít cựu chiến binh năm xưa. Ông Chu Trí Khánh, cựu chiến binh binh đoàn Tây Nguyên xúc động kể: “Anh em chỉ cần được nghe chỉ huy đơn vị đọc mệnh lệnh của Đại tướng gửi toàn quân trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 cũng thấy ấm lòng và có niềm tin phơi phới vào chiến thắng trong trận quyết chiến này”. Bởi đó không chỉ là lời động viên đơn thuần. Chất chứa trong đó là niềm tự hào, ý chí quyết tâm của cả dân tộc kết tinh trong bức điện ngắn gọn mà đầy hào sảng này.

Một điều đặc biệt dễ nhận thấy ở ông là lối sống vô cùng giản dị mà thanh cao. Tuy nắm quyền cao nhưng Đại tướng không bao giờ tỏ ra quan cách, khệ nệ của một ông Tướng thét ra lửa. Ông luôn coi các chiến sĩ như là những người thân trong gia đình. Trước mỗi trận đánh, ông đều tính toán những phương án có lợi nhất để giảm thiểu thương vong cho chiến sĩ ta mà vẫn đảm bảo thắng lợi. Những khi có tin báo thắng trận về, ông thường hỏi luôn là chiến sĩ ta có bị thương vong nhiều không? Có thể nói, đây là điểm tương đồng giữa Hồ Chủ Tịch và Tướng Giáp.

Ngay cả khi Đại tướng đã về hưu nhưng trái tim Người vẫn đau đáu nỗi lo cho dân cho nước, bằng những đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo ông, sau khi có hòa bình thì điều quan trọng hàng đầu là phát triển Khoa học kỹ thuật và Giáo dục đào tạo. Bởi ông hiểu hơn ai hết vai trò và ý nghĩa của hai ngành này đối với việc phát triển đất nước. Theo thầy giáo Nguyễn Thế Sảng, người đã gắn bó với nghề giáo hơn 30 năm cũng chung nhận đinh: “Việt Nam ta tự hào khi có tướng Giáp. Cụ không chỉ tài ba trong lĩnh vực quân sự mà cả trong lĩnh vực giáo dục. Việc áp dụng các kiến thức lịch sử vào trong quân sự đã minh chứng cho điều này”. Cái đặc biệt hơn, chính ông và các đồng đội của mình là những người tiếp theo viết nên lịch sử của dân tộc.

Có thể nói, chính tấm lòng suốt cuộc đời vì nước vì dân, sống cả đời thanh cao nên đã tạo ra một sức ảnh hưởng và niềm tin tuyệt đối vô cùng to lớn trong toàn quân và dân ta đối với ông. Ở những giải đấu bóng đá mà đội tuyển Việt Nam tham gia, bên cạnh hình ảnh Bác Hồ còn có chân dung của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở trên các khán đài. Điều này cho thấy uy tín cũng như sức ảnh hưởng của hai cụ lớn đến như thế nào trong lòng nhân dân, nhất là trong những giờ phút quan trọng.

Giờ đây, khi mà thân xác đã về lại với đất mẹ Quảng Bình, nhưng trong lòng nhân dân Việt Nam, Đại tướng vẫn sẽ sống mãi, hòa cùng vào với tinh thần của dân tộc. Trong lòng nhiều người dân, hình ảnh của cụ Giáp và cụ Hồ luôn là ngọn đuốc soi đường cho mọi thắng lợi tiếp theo cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta giành thêm những chiến thắng nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Địa chỉ 30 Hoàng Diệu với tôi bỗng trở nên quen thuộc làm sao! Mỗi dịp có việc đi qua là tôi và nhiều người dân khác thường dừng xe và đứng trước cổng bái vọng vào phía trong – dường như vẫn còn đây hơi ấm của Đại tướng. Bức chân dung của Người hiện lên với nụ cười tươi và bộ quân phục màu xanh đã sờn bạc trong gia đình tôi giờ sẽ mãi được treo trang trọng. Như lời nhắc nhở đối với các lớp con cháu sau này về một vị Tướng huyền thoại. Có nhiều ý kiến cho rằng nên lập tức xây tượng đài tưởng nhớ cụ, nhưng tôi trộm nghĩ: “Trong lòng dân Người đã hóa tượng đài”.


Tác giả: Phó Đình Tuệ 

(An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội)

Trong lòng dân Người đã hóa tượng đài - ảnh 1