Thứ tư, 20/05/2020 | 19:39 GMT+7

Chuyện tình thời chiến: Kỷ vật vô giá của người cựu chiến binh già

Trong những năm tháng xa cách vợ con chiến đấu ở chiến trường miền Nam, ông Trần Quốc Phong đã viết hàng trăm bức thư, gửi gắm yêu thương về hậu phương cho vợ con.

Đã 92 tuổi, hiện cựu chiến binh Trần Quốc Phong đang sống trong căn nhà ở đường Đào Duy Anh (TP.Huế). Vợ ông, bà Ngô Thị Bích Thanh, đã mất do đột quỵ từ 2 năm trước.

Ông Trần Quốc Phong đọc lại những bức thư tình gửi cho vợ trong thời gian chiến tranh. Ảnh: Gia đình & Xã hội

Ông Trần Quốc Phong sinh ngày 25/12/1930 tại Hương Vinh, Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế, trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Cha của ông là “Tướng rơm ớt” Trần Gia Hội, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trần Cao Vân nổi tiếng khắp chiến trường Bình Trị Thiên một thời.

Sau Cách mạng tháng 8/1945, ông Trần Quốc Phong khi đó là giáo viên bình dân học vụ kiêm thư ký UBND xã của chính quyền mới thành lập. Năm 1949, vì cha hoạt động cách mạng, ông bị Pháp bắt. Hơn một tháng tra khảo nhưng không làm được gì, chúng đành thả ông về. Ngay khi được trả tự do, ông đã tìm cách lên chiến khu Dương Hòa (Thừa Thiên Huế) gia nhập Vệ quốc đoàn.

Ở tuổi 20, chàng trai trẻ Trần Quốc Phong được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, tham gia chiến đấu ở các chiến trường: Tây Nguyên, Bình Trị Thiên, Trung Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Tháng 10/1954, ông tập kết ra Bắc.

Trong một lần ghé thăm cậu em là thiếu sinh quân lấy vợ và sống ở huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh), ông tình cờ quen người nữ dân quân du kích Ngô Thị Bích Thanh, kém ông 10 tuổi.

"Ngay từ những lần gặp gỡ đầu tiên, vẻ đẹp chân chất, thật thà của người thiếu nữ vùng “sơn cước” đã làm loạn nhịp trái tim của tôi khi đó", ông Phong hồi tưởng và kể lại với Gia đình Việt Nam.

 Vợ chồng cựu chiến binh Trần Quốc Phong khi mới cưới. Ảnh: Gia đình Việt Nam

Sau hai năm tìm hiểu, năm 1956, hai người quyết định về chung một nhà. 9 năm chung sống, ông bà đã có 2 người con. Thế nhưng đến năm 1965, ông phải tạm biệt vợ con lên đường vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ.

Nhớ lại ngày đó, ông Phong bồi hồi xúc động: “Ngày tôi đi, bà Thanh vừa đi vừa khóc, tiễn nhau suốt một chặng đường dài. Rồi trong những tháng ngày xa cách đó, tôi đã làm những bài thơ, viết những cánh thư tay gửi về cho vợ”.

“Em yêu quý! Anh đã đi gần hết đất Quảng Bình rồi, chỉ còn vài hôm nữa là sang đất Quảng Trị, và sẽ tạm biệt miền Bắc thân yêu. Cấp trên cấm ngặt vấn đề gửi thư. Thế nhưng vì thương em, không nỡ để em đau khổ trong bước đầu xa anh, nên anh trộm phép viết lá thư này cho em đây”, Dân Việt trích đoạn một bức thư của ông Phong.

Khoảng thời gian ở chiến trường miền Nam, ông Phong liên tiếp nhận nhiệm vụ và hoạt động ở những vùng khác nhau. Từ năm 1969 - 1972, ông được cử đi học tại Trường Đại học Quân y ở Hà Đông. Sau khi học xong, ông ở lại trường làm Trợ lý Ban Giám hiệu Trường Đại học Quân y.

Tháng 5/1972, ông tiếp tục nhận lệnh tham gia chiến đấu và chuyển thương tại chiến trường Quảng Trị. Lúc ấy, những lá thư tay chính là sợi dây liên lạc duy nhất để ông gửi gắm yêu thương về hậu phương - nơi mà tình yêu lớn nhất đó là vợ con ông đang mong ngóng từng ngày.

Trong thư ngày 13/7/1972, ông viết: “Anh chưa bao giờ và sẽ không bao giờ phụ tấm lòng yêu thương nồng thắm, và tình nghĩa thủy chung, son sắt của em đâu. Anh sẽ giữ gìn trọn vẹn cho em tất cả những điều mà em mong muốn...”.

Những lá thư tay ông Phong gửi về cho vợ sau bao năm vẫn còn nguyên vẹn. Ảnh: Gia đình Việt Nam

Ngày đó, mỗi bức thư được ông chắp bút là một nỗi nhớ thương vợ con ở quê nhà: "Em yêu quý!... Ôi! mỗi bước anh đi là một bước nhớ thương, mỗi bước anh đi là một bước ôn lại những tháng ngày anh đã sống... Càng nghĩ đến em anh càng thương em vô cùng. Anh nhớ những ngày cùng chung sống trước đây, từ buổi đầu mới biết nhau cho đến những ngày đi sâu vào cuộc sống. Bao nhiêu hình ảnh thắm thiết yêu thương trong chuỗi ngày tươi đẹp ấy có bao giờ mờ phai được!”.

Bên cạnh đó là những lời động viên vợ vượt qua mọi khó khăn gian khổ, tin tưởng vào ngày non sông thu về một mối: "Em yêu quý của anh ơi! Mong em ở nhà yên tâm, cố gắng khắc phục khó khăn. Chúng ta cùng trông đợi một ngày tươi đẹp nhất, ngày con tàu thống nhất đưa chúng ta xích lại gần nhau. Khi ấy Thanh, người vợ yêu quý của anh vẫn kiên trinh một tấm lòng son sắt, đã vững vàng tay lái qua những bước gian truân. Bình, Minh - hai đứa con ngoan của chúng ta khôn lớn khỏe xinh như những đứa con ngoan của người khác” (Gia đình & Xã hội trích dẫn).

Trong những lá thư chan chứa tình cảm yêu thương, nỗi nhớ dạt dào, ông Phong còn làm thơ tặng vợ. Và có một điều đặc biệt, ở cuối mỗi bức thư, lúc nào ông cũng ký nháy: "Hôn em và con, hẹn ngày thống nhất!". Tất cả đã thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào một ngày không xa khi nước nhà hoàn toàn thống nhất.

Nhớ lại thời khắc nghe tin đất nước hoàn toàn thống nhất 30/4/1975, cựu chiến binh Trần Xuân Phong xúc động: “Khi ấy, nghe tin thắng trận, tôi vỡ òa trong hạnh phúc. Cứ nghĩ đến việc nước nhà thống nhất, những người lính như tôi được đoàn tụ với gia đình mà vui không tả xiết. Một niềm vui không gì có thể sánh được”.

Vợ chồng ông Trần Quốc Phong đầm ấm tuổi về già. Ảnh: Gia đình & Xã hội

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, ông trở về đoàn tụ với gia đình. Nơi quê nhà, bà Ngô Thị Bích Thanh một mình nuôi dạy các con khôn lớn, đợi ông về. Tất cả những lá thư ông gửi về, bà đều cất giữ cẩn thận.

Sau khi vợ qua đời, ông Phong đã cho xuất bản nội bộ tập thơ này.

“Đây là kỷ vật tình yêu vô giá về mối tình của tôi. Tôi in thành tập lưu hành nội bộ gia đình, bạn bè, những người tôi yêu quý. Lưu lại đó như để hoài niệm và khắc sâu tình cảm về những năm tháng không thể nào quên trong cuộc đời”, cựu binh Trần Quốc Phong tâm sự.

Minh Khôi (T/h)

 

Nguồn: NĐT